Bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm Bính Thìn (1496)

Hiện vật · Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm Bính Thìn (1496)

Hiện vậtHồng Đức năm thứ 27 (1496)Nhà Lê sơ

Niên hiệu: Hồng Đức năm thứ 27 (1496) Ngày dựng: Ngày 6 tháng 12 năm 1496 Đặc điểm: Trán bia: Bia duy nhất không chạm khắc trên trán bia. Diềm bia: Hoa dây chạy theo nhịp điệu hình sin, văn xoắn tay mướp theo cụm đôi đồng chiều hoặc ngược chiều. Rùa đội: Rùa được tạo hình nhỏ hơ

Niên hiệu: Hồng Đức năm thứ 27 (1496) Ngày dựng: Ngày 6 tháng 12 năm 1496 Đặc điểm: Trán bia: Bia duy nhất không chạm khắc trên trán bia. Diềm bia: Hoa dây chạy theo nhịp điệu hình sin, văn xoắn tay mướp theo cụm đôi đồng chiều hoặc ngược chiều. Rùa đội: Rùa được tạo hình nhỏ hơn nhiều so với tấm bia đỡ trên lưng. Cách tạo hình của con rùa này cũng khác với phần lớn các rùa cùng giai đoạn này. Đầu rùa khá bẹp, mũi tại sống nhỏ hình chữ T, mắt lồi như hai bi. Chỉ có chân sau không có chân trước. Mai rùa có gờ. (Rất có thể con rùa này của giai đoạn sau được thay thế cho rùa đã mất của bia này). Bia đề danh Tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) dưới triều vua Lê Thánh Tông được dựng ngày mùng 6 tháng 12 cùng năm. Khoa thi này tuyển chọn được 30 nhà khoa bảng. Vua xem quyển chọn bài, lấy Nghiêm Viện đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Huân đỗ Bảng nhãn, Đinh Lưu đỗ Thám hoa, đều ban cho hạng Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ. Hàng Đệ nhị giáp Tiến sĩ cập đệ lấy 8 người, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân đỗ 19 người. Nhà vua cho các vị Tiến sĩ được ban cấp ân vinh y theo lệ cũ, sai Bộ Công khắc đá, sai Hiển Cung đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, tham Chưởng Hàn lâm viện sự Lưu Hưng Hiếu làm bài ký ghi lại sự việc. Bài ký đã làm rõ trách nhiệm và bổn phận của kẻ sĩ đối với đất nước là “phải dốc sức vào thực tiễn, răn dè thói hư danh; văn chương phải cứng cỏi hồn thuần, sự nghiệp phải lâu dài to lớn”. Theo sắc dụ của nhà vua, Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Đức vâng sắc viết chữ. Chữ trên trán bia do Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chế Tô Ngại vâng sắc viết chữ Triện.